Long Xuyên Hải Ngoại

Dù số phận mang tới điều gì,

hãy can đảm tranh đấu cho quê hương tự do

Lam Phương, người viết sử bằng nhạc

Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2020 // ,

 VOA - BẠN ĐỌC LÀM BÁO

24/12/2020


Lam Phương trong một chương trình âm nhạc tại Dallas. (Hình: Đinh Yên Thảo)


Đinh Yên Thảo


Hai tháng cuối năm liên tiếp, người thưởng ngoạn lại bùi ngùi chia tay với những nhạc sĩ của một thế hệ vàng còn sót lại của Việt Nam. Tháng 11 chia tay nhạc sĩ Lê Dinh và những ngày cuối năm 2020 này là nhạc sĩ Lam Phương.

Ông biến âm tên thật của mình, Lâm Đình Phùng thành Lam Phương, mà ông hay ai đó đã giải thích là mang ý nghĩa "phương trời của màu xanh hy vọng". Hy vọng cho một quê hương thanh bình, không chinh chiến, điêu linh. Hy vọng về hạnh phúc con người không gãy đổ, chia lìa. Nhưng hy vọng hay mơ ước là phạm trù cảm xúc, còn định mệnh lịch sử là sự thật của thời gian. Chúng chẳng song hành.

Chẳng tranh cãi gì khi bảo ông là một trong những nhạc sĩ kiệt xuất và đại chúng hàng đầu của nền âm nhạc Việt Nam. Với nhiều cung bậc xúc cảm và dòng nhạc khác nhau, Lam Phương là chứng nhân cho quê hương, cho số phận con người như vậy.

Nếu Khúc Ca Ngày Mùa, Trăng Thanh Bình.. là dòng nhạc quê hương êm đềm thì chúng khác hẳn dòng nhạc lưu xứ da diết như Chuyến Tàu Định Mệnh, Chiều Tây Đô, Sầu Viễn Xứ... Tiết tấu những bản nhạc tình thổn thức như Cỏ Úa, Lầm, Buồn Không Em... đối nghịch hoàn toàn với Thiên Đàng Ái Ân, Bài Tango Cho Em... lắm rộn ràng. Và hai bản nhạc ở mặt nào đó được xem là biểu tượng của Lam Phương là Thành Phố Buồn và Cho Em Quên Tuổi Ngọc là hai thái cực, giữa một bolero rất Việt và nhạc phẩm thính phòng mang đầy âm hưởng Tây phương. Những bản nhạc đủ hay thừa để trung tâm Thúy Nga Paris thực hiện đến bốn chương trình cho riêng ông, hình như không có người nhạc sĩ thứ hai nào được vậy.

Nên không ngạc nhiên khi mỗi người thưởng ngoạn đều có một hay vài bản nhạc Lam Phương mà mình đặc biệt yêu thích. Với tôi là Chiều Tây Đô, bởi nó là một bản nhạc gắn bó với kỷ niệm và cảm xúc riêng tư.

Sáu năm trước, Dallas có tổ chức một chương trình nhạc Lam Phương, một trong những chương trình âm nhạc có đông đảo khán giả tham dự nhất tại thành phố này. MC Nguyễn Ngọc Ngạn có hẹn mời chúng tôi ra uống cà phê trò chuyện nơi khách sạn ông ngụ. Uống xong cà phê, nhạc sĩ Lam Phương mới xuống. Ông không nói được nhiều mà chỉ cười. Như trên sân khấu và ngoài đời. Nụ cười hiền hòa, bình an như những bản nhạc quê hương thanh bình, đôn hậu của ông.

Nhưng đàng sau nụ cười đó là những sóng gió, trắc trở và thăng trầm. Như số phận của quê hương, của không ít người. Trong gần bảy chục năm qua, ông vô tình làm công việc một nhà sử học, ghi lại tất cả những cột mốc, sự việc và cảm xúc theo giòng lịch sử qua trên dưới 200 bản nhạc của mình. Một bộ sử nhạc đồ sộ và quý giá của nước Việt mà ông đã để lại cho nền âm nhạc Việt Nam.

Xin cảm ơn và chia tay nhạc sĩ Lam Phương. 

"Bà tổ" làng cải lương truân chuyên 4 đời chồng, đau xót thay 3 con đều qua đời vì bệnh

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2020 // ,

  Hạnh Nhiên Ngày 11/10/2020 00:01 AM (GMT+7)

Là tượng đài của nghệ thuật cải lương, NSND Phùng Há sống gần 1 thế kỷ mà gắn bó với sân khấu 86 năm. Thế nhưng dù thành công trong sự nghiệp thì con đường tình duyên của bà lại nhiều sóng gió, truân chuyên.

Một trong những vị của bộ môn nghệ thuật cải lương Việt Nam

Sinh năm 1911 tại làng Điều Hòa, tổng Thuận Trị, quận Châu Thành (nay là thành phố Mỹ Tho), tỉnh Tiền Giang, NSND Phùng Há tên thật là Trương Phụng Hảo. Bà là người được xem là một trong những vị tổ của bộ môn nghệ thuật cải lương Việt Nam khi sống gần trọn một thế kỷ.

amp;#34;Bà tổamp;#34; làng cải lương truân chuyên 4 đời chồng, đau xót thay 3 con đều qua đời vì bệnh - 1

Thời xuân sắc của bà Phùng Há.

Từ rất sớm bà đã đến với cải lương. Cùng với kép chính Năm Châu, năm 13 tuổi bà được ông bầu gánh Hai Cu mời tham gia gánh hát Tái Đồng Ban với vai trò đào chính. Vì diễn quá hay, hát quá ngọt dù không phải là con nhà nòi nhưng ngay từ lần đầu đứng trên sân khấu bà đã nhận được những tràng pháo tay không ngớt của khán giả.

Trong vở cải lương "Hoàng Phi Hổ quy Châu" của soạn giả Nguyễn Công Mạnh, vai Giả Thị là vai diễn đầu tiên trong sự nghiệp ca hát của bà. Nhiều vở tuồng bà đóng cặp với Năm Châu tiếp theo sau rất được công chúng hoan nghênh và tán thưởng. Họ trở thành cặp đào – kép rất được công chúng hoan nghênh và tán thưởng.

amp;#34;Bà tổamp;#34; làng cải lương truân chuyên 4 đời chồng, đau xót thay 3 con đều qua đời vì bệnh - 3

Vở diễn của bà Phùng Há (ngồi) cùng NS Năm Châu.

Rồi Năm Châu bất ngờ về đầu quan cho gánh Trần Đắc cùng với Tư Chơi vào năm 1926. Phùng Há kết hôn với Tư Chơi cũng trong năm này, nhưng cuộc tình chóng vánh, chỉ 2 năm sau bà ly dị. Lúc này, bà Phùng Há đang mang bầu đứa con đầu lòng liền bỏ về quê Mỹ Tho hát cho gánh của thầy Năm Tú. Vài năm sau khi cô con gái Bửu Chánh chào đời, bà phải đưa con về quê cha nhờ người chị nuôi nấng do phải thường xuyên lưu diễn. Bửu Chánh đổi tên và lấy họ của dưỡng phụ thành Lý Bửu Trân. Vì quá bận rộn, phải gần 10 năm sau nghệ sĩ Phùng Há mới sang đón con gái trở về Sài Gòn sum họp.

Năm 1929, vào một đêm diễn, sau khi vở tuồng Mạnh Lệ Quân thoát hài do Phùng Há thủ vai chính kết thúc, bà ra cửa sau ra về bất ngờ gặp Bạch công tử – Lê Công Phước đứng đợi tự bao giờ. Kể từ đó, sau cái bắt tay làm quen cô đào hát, cứ mỗi đêm ở hàng ghế đầu tiên chàng công tử hào hoa say sưa thưởng thức tài nghệ ca diễn của cô bảy Phùng Há. Cái gì đến cũng đã đến, trước sự săn đón nhiệt tình của người đán ông ấy, họ bén duyên, yêu thương nồng cháy và nên duyên vợ chồng.

amp;#34;Bà tổamp;#34; làng cải lương truân chuyên 4 đời chồng, đau xót thay 3 con đều qua đời vì bệnh - 4

NSND Phùng Há và Bạch công tử.

Bạch công tử quyết tâm đầu tư sau khi gặp được bà Phùng Há. Để thành lập gánh hát Huỳnh Kỳ, sau khi kết hôn với bà, Bạch công tử đã tách ra khỏi gánh hát Phước Cương và giao cho vợ là bà Phùng Há làm bầu. Chẳng bao lâu gánh hát Huỳnh Kỳ trở thành tâm điểm thu hút rất nhiều khán giả dưới sự điều hành của bà Phùng Há, vốn liếng tiền bạc dồi dào cùng với kiến thức có được từ những năm du học của Bạch công tử. Gánh Huỳnh Kỳ có vở tuồng ăn khách nhất là Giọt máu chung tình, do Năm Thiên đóng vai Võ Đông Sơ và Phùng Há vai Bạch Thu Hà. Cuộc đời của ca nương thanh sắc lừng danh những tưởng sẽ mãi hạnh phúc nhưng đời đâu biết được chữ ngờ!

Hàng loạt nỗi đau trời giáng dội xuống người phụ nữ tài hoa mà khốn khổ

Cuộc hôn nhân của Bạch công tử và cô bảy Phùng Há hạnh phúc được nhiều năm. Sự ra đời của 2 mụn con kháu khỉnh: con trai Paul Lộc và con gái Suzane là kết tinh từ niềm hạnh phúc đó. Thế nhưng dường như đó chỉ là giai đoạn tạm dừng của những cuộc ăn chơi. Bạch công tử nhanh chóng trở về với những cờ bạc, rượu chè, gái gú không quan tâm chăm chút gánh hát như trước nữa sau 7 năm với những thành công có được từ sự miệt mài lao động.

amp;#34;Bà tổamp;#34; làng cải lương truân chuyên 4 đời chồng, đau xót thay 3 con đều qua đời vì bệnh - 5

Cuộc sống riêng của NSND Phùng Há đầy trắc trở.

Gánh Huỳnh Kỳ rơi vào tình trạng không người cai quản. Công việc điều hành đoàn hát của Bạch công tử bị bỏ ngỏ, trong khi bà Phùng Há một nách 2 con còn phải lo về phần nghệ thuật biểu diễn. Gánh hát càng ngày càng suy sụp như rắn mất đầu, mạnh ai nấy làm, đào kép bỏ đi.

Trên những chiếc ghe mà gánh hát neo gần cầu Ông Lãnh, bà Phùng Há ôm con nằm chơ vơ. Lúc này bà chỉ còn biết cách đi tìm chồng, đã vậy hai con nhỏ còn ốm, tiền bạc không còn nhưng rồi phải ngậm đắng nuốt cay, thất vọng tràn trề khi chứng kiến Bạch công tử đang ôm ấp một cô gái đẹp. Chẳng những không hối lỗi, Bạch công tử còn quát mắng bà. Vì không có thuốc men nên cậu con trai đầu Paul Lộc bị bệnh rồi mất. Thế nhưng Bạch công tử vẫn chìm đắm trong u mê, ăn chơi sa đọa dù con mất, vợ quay quắt.

amp;#34;Bà tổamp;#34; làng cải lương truân chuyên 4 đời chồng, đau xót thay 3 con đều qua đời vì bệnh - 6

Cố NSND Phùng Há và con gái Bửu Chánh.

Bà Phùng Há quyết định ly hôn vì không thể chịu đựng được hoàn cảnh trái ngang ấy. Cú sốc ấy chưa kịp qua đi thì bà lại hứng chịu nỗi đau không thể nguôi ngoai đó là cô con gái nhỏ Suzane cũng ra đi sau đó ít lâu. Bà Phùng Há bị đẩy đến tận cùng của sự đau khổ khi chồng hắt hủi, hai con đều ra đi. Cuối cùng bà quyết định đứng lên gây dựng lại sự nghiệp sau một thời gian vùi mình trong nước mắt.

Nghệ sĩ Phùng Há đi đến cuộc hôn nhân thứ 3 với kỹ sư Nguyễn Bửu vào năm 1940, sau khi cuộc tình thăng hoa lẫn bi kịch với Bạch công tử Lê Công Phước kết thúc 4 năm. Nguyễn Bửu đã lập gánh hát Phụng Hảo ở Sài Gòn giao cho bà quản lý, quy tụ nhiều nghệ sĩ tài năng vì vốn là một đại điền chủ giàu có ở Trà Vinh. Nhưng do tình hình rối ren, đoàn Phụng Hảo gặp nhiều khó khăn phải lưu diễn dưới Bà Rịa - Vũng Tàu trước khi thuê ghe về Mỹ Tho và tự giải tán.

amp;#34;Bà tổamp;#34; làng cải lương truân chuyên 4 đời chồng, đau xót thay 3 con đều qua đời vì bệnh - 7

NSND Phùng Há lúc "xế chiều".

Cuộc hôn nhân của bà Phùng Há và ông Nguyễn Bửu cũng tan vỡ theo sự tan rã của gánh hát Phụng Hảo. Và rồi một chủ trang trại nuôi bò giàu có đầu thập niên 1950 têm Châu Văn Sáu đã kết hôn với bà Phùng Há và tạo cơ hội gầy dựng lại đoàn hát Phụng Hảo đi lưu diễn khắp trong Nam ngoài Bắc gây tiếng vang lớn. Thế nhưng cuộc hôn nhân với đại gia nuôi bò cũng chẳng tồn tại được lâu và tan rã cùng đoàn hát.

Dường như nỗi đau vẫn chưa muốn buông tha Phùng Há khi sau một thời gian bị bệnh nan y, người con ruột duy nhất còn lại của bà là Bửu Chánh đã qua đời vào năm 1963. Đó như một nỗi đau trời giáng dội xuống người phụ nữ khốn khổ ấy. Ngày 5/7/2009, NSND Phùng Há đã trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Nguyễn Trãi (TP HCM). Bà hưởng thọ 99 tuổi. Trong lòng khán giả ái mộ cải lương, đến nay hình ảnh và những di sản bà đã để lại vẫn luôn ngự trị không phai mờ.

amp;#34;Bà tổamp;#34; làng cải lương truân chuyên 4 đời chồng, đau xót thay 3 con đều qua đời vì bệnh - 8

Mộ phần NSND Phùng Há ở nghĩa trang nghệ sĩ.

amp;#34;Bà tổamp;#34; làng cải lương truân chuyên 4 đời chồng, đau xót thay 3 con đều qua đời vì bệnh - 9

Nguồn: https://phunuvietnam.vn/ba-to-lang-cai-luong-truan-chuyen-4-doi-chong-dau-xot-thay-3-co...

Sao cải lương ra đi ở tuổi 44 và mối tình với ca sĩ chuyển giới đầu tiên tại VN
Nghệ sĩ Chinh Nhân, con trai nghệ sĩ Bạch Mai và cố nghệ sĩ Đức Lợi được nhiều người nhớ đến bởi mối tình với nữ ca sĩ chuyển giới đầu tiên ở Việt...

Hạnh Nhiên (Phụ Nữ Việt Nam)

Nhạc vàng kho tàng âm nhạc Việt Nam – Nguyễn Quang Duy

Thứ Tư, 20 tháng 11, 2019 // ,
Nhạc vàng kho tàng âm nhạc Việt Nam – Nguyễn Quang Duy

Miền Nam trước đây gọi nhạc vàng là tân nhạc để phân biệt với cổ nhạc. Sau chiến tranh, bên thắng cuộc mở “mặt trận” tấn công vào nền văn hóa miền Nam, cả tân nhạc lẫn cổ nhạc đều bị nghiêm cấm và bị hủy diệt.
Tân nhạc bị gán ghép là nhạc tâm lý chiến, nhạc phản động, nhạc xuyên tạc đường lối chống phá cách mạng, hay bị xem là thứ nhạc sến, nhạc đồi trụy, nhạc ru ngủ, nhạc lãng mạn bi quan, nhạc vàng vọt.
Từ ngữ nhạc vàng xuất phát từ miền Bắc đã nhanh chóng được người miền Nam chấp nhận để phân biệt với nhạc đỏ là loại nhạc cộng sản.
Trong tâm tư người miền Nam màu vàng là màu da, màu dân tộc, màu mai vàng phương Nam, màu tươi trẻ, màu của kim loại quý hiếm vào bậc nhất.
Bởi thế cờ vàng và nhạc vàng nhanh chóng được xem là báu vật của Việt Nam Cộng Hòa.
Vì yêu nhạc vàng…
Khi đất nước chia đôi cách mạng văn hóa được phát động tại miền Bắc nhạc vàng bị nghiêm ngặt cấm đoán. Nhạc đỏ với âm điệu Trung Hoa nhanh chóng thống trị nền âm nhạc miền Bắc, nhưng vẫn còn nhiều người yêu nhạc thường lén lúp thưởng thức nhạc vàng.
Một vụ án văn nghệ liên quan đến ban nhạc 3 người bị tố cáo hát xen kẽ nhạc vàng trong những đám cưới và những cuộc liên hoan, được xử công khai tại Hà Nội vào tháng 1/1971.
Ông Phan Thắng Toán tự Toán Xồm bị kết án 15 năm tù giam và tước quyền công dân 5 năm. Ông Nguyễn Văn Đắc 12 năm tù và tước quyền công dân 5 năm. Ông Nguyễn Văn Lộc tự Lộc Vàng 10 năm tù và tước quyền công dân 4 năm.
Thập niên 1980 khi họ ra tù nhạc vàng đã khá phổ biến nhưng cả ba vẫn bị quản chế và gặp phải muôn vàn khó khăn.
Ông Toán Xồm không nhà sống lang thang đã qua đời trên hè phố Hà Nội vào đúng đêm 30/4/1994, tưởng niệm 19 năm miền Nam lọt vào tay cộng sản.
Ông Đắc mất năm 2005 trong nghèo khổ.
Ông Lộc Vàng sống bôn ba mãi đến gần đây mới mở một quán cà phê nhỏ ở Hà Nội lấy tên Lộc Vàng.
Văn nghệ tự do
Chủ trương của Việt Nam Cộng Hòa được ghi rõ trong cả 2 Hiến pháp 1956 và 1967 là xây dựng một xã hội dựa trên triết lý nhân bản, khai phóng và dân tộc.
Văn nghệ được tự do hoạt động nên chỉ trong vòng 20 năm đã có hằng chục ngàn bản tân nhạc đủ thể loại chính thức phát hành, trong số có hằng trăm tác phẩm đã trở thành bất hủ.
Đa số nhạc miền Nam đều chan chứa tình người, tình yêu quê hương, yêu đất nước, nỗi mong muốn thanh bình trở lại.
Tân nhạc được chia thành dòng nhạc tiền chiến, nhạc đại chúng, nhạc trẻ, nhạc du ca và nhạc phản chiến.
Còn được phân loại thành nhạc lính, nhạc tình, nhạc kích động, nhạc khiêu vũ, nhạc dân ca, nhạc sắc tộc, nhạc ngoại quốc lời Việt, nhạc chiêu hồi, nhạc chính huấn, nhạc đạo, nhạc thiếu nhi, nhạc hướng đạo, nhạc sinh hoạt…
Người miền Nam trân quý tác giả nên trân trọng đặt tên cho dòng nhạc Lam Phương, nhạc Phạm Duy, nhạc Trần thiện Thanh, nhạc Hoàng thi Thơ, nhạc Anh Bằng…
Trước khi hát một bản nhạc người điều khiển chương trình hay ca sỹ thường giới thiệu tên tác giả và hoàn cảnh tác phẩm được sáng tác.
Việc giới thiệu tác giả và tác phẩm đã trở thành một phần của nền văn hóa Việt Nam Cộng Hòa.
Mỗi tác giả mỗi khác, mỗi bài nhạc mỗi khác, mỗi ca sỹ trình diễn mỗi khác, biểu hiện sự phong phú và đa dạng của âm nhạc miền Nam.
Ở miền Nam nhà nào cũng có radio, nhiều nhà có tivi, có dĩa hát, có máy thu thanh cassette… không có thì nghe ké nhà hàng xóm.
Nhiều ca sỹ, nhiều ban nhạc, nhiều hãng băng dĩa cassette cạnh tranh phục vụ đại chúng.
Từ tờ mờ sáng nhạc vang vọng khắp nơi, đến tối mịt mù, đôi khi vẫn nghe tiếng nhạc dập dình.
Những bản nhạc bolero, rumba, chachacha, tango dễ nhớ, dễ hát và dễ đi vào lòng người.
Người miền Nam hát bất cứ lúc nào có thể hát được. Đám cưới, đám hỏi hát hò, đến cả ngày giỗ đám ma cũng tụm năm tụm bẩy hát cho nhau nghe.
Họ hát từ tiền đồn heo hút, hát trong nhà thờ, trong chùa ra đến góc đường, góc chợ, quán ăn, hát cho nhau nghe và cho chính mình nghe.
Họ quan niệm hát hay không bằng hay hát, họ đồng cảm và đồng sáng tác bằng cách chế lời đổi nhịp điệu bài hát.
Máu văn nghệ chìm đắm trong tim óc người miền Nam, trở thành nếp sống, nếp văn hóa Việt Nam Cộng Hòa.
Trong tù “cải tạo” nhạc miền Nam bị cấm, ai hát bị biệt giam đến chết, các tù nhân vẫn hát, hát cho nhau nghe, hát để gìn giữ báu vật Việt Nam Cộng Hòa.
Nhạc vàng Bắc Tiến
Những ngày đầu 30/4/1975, không ít người miền Nam ngạc nhiên khi nghe bộ đội Bắc Việt hát những bài viết về người lính miền Nam như Rừng Lá Thấp của Trần Thiện Thanh hay Xuân Này Con Không Về của Trịnh Lâm Ngân.
Khác chiến tuyến nhưng họ hát với tấm lòng của người lính xa nhà mong muốn chiến tranh chấm dứt để về lại quê hương.
Về miền Bắc trong ba lô người bộ đội chiếc cassette nhỏ và chục băng nhạc làm quà. Làng trên xóm dưới bắt đầu biết đến nhạc miền Nam.
Còn ở miền Nam, các đội cờ đỏ truy lùng nhạc chế độ cũ. Người yêu nhạc bị mang ra khu phố đấu tố, nhiều thanh niên bị cưỡng bức đi Thanh Niên Xung Phong, có người còn bị bắt đi cải tạo chỉ vì lén lúp chơi nhạc vàng.
Đầu năm 1979, chiến lợi phẩm của bộ đội miền Bắc là những kho cassette và băng nhạc trên đất Campuchia, nhạc vàng lại một lần nữa tràn ngập miền Bắc.
Rồi những radio cassette, những cuộn băng nhạc hải ngoại được chuyển ra miền Bắc, tiếp tục sự nghiệp Bắc Tiến của nhạc vàng.
Khi ấy Hà Nội đã chuyển hầu hết công an và cán bộ tuyên giáo vào Nam nên nhạc vàng công khai cạnh tranh với loa phường và các đài chính thống.
Nhạc vàng trở thành món ăn tinh thần cho người dân miền Bắc, nhất là những người sống ở thành thị.
Nhạc vàng theo chân người Việt “xuất khẩu lao động” sang tận Liên Xô và Đông Âu. Ở đâu có người Việt ở đó có nhạc Việt Nam Cộng Hòa.
Ở miền Nam sau những cuộc truy quét, nhạc vàng bắt đầu sống dậy. Nhiều ca sỹ lén lút thu thanh, nhiều quán cà phê hát nhạc vàng, nhiều đoàn hát “chui” về tận miền quê trình diễn.
Ngược lại số người nghe nhạc đỏ giảm sút rất nhiều, nhất là với những người trẻ muốn quên đi chiến tranh và cách mạng.
Đến năm 1986, Hà Nội chính thức phải công nhận nhạc vàng, một danh mục gồm 36 tác phẩm âm nhạc của miền Nam được công khai trình diễn. Nhiều chương trình văn nghệ nhạc vàng được công khai tổ chức.
Ở hải ngoại các nhạc sỹ tiếp tục sáng tác tạo ra dòng nhạc vàng hải ngoại. Đến thập niên 1990, băng video Paris By Night, ASIA, Vân Sơn,… từ hải ngoại gởi về được bà con trong nước nhiệt tình ủng hộ.
Nghị quyết 36 ra đời Hà Nội chính thức chỉ đạo phục vụ văn nghệ “đồng bào” hải ngoại. Nhạc vàng được Hà Nội chính thức nuôi dưỡng. Nhiều ca sỹ nhạc vàng được Hà Nội cung cấp tiền và phương tiện ra hải ngoại trình diễn. Hà Nội còn chấp nhận một số ca sỹ hải ngoại về nước hát.
Các nhạc sỹ đỏ bị “vắt chanh bỏ vỏ”, nhạc đỏ bị bỏ xó không ai màng tới, đến đài phát thanh, đài truyền hình Hà Nội cũng phát nhạc vàng.
Nhạc Việt Nam Cộng Hòa sống dậy
Bước sang thời đại Youtube và Facebook, chỉ cần chiếc máy tính, chiếc điện thoại cầm tay mọi người có thể dễ dàng thưởng thức kho tàng âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa.
Nhiều bạn trẻ mặc đồ lính Việt Nam Cộng Hòa hát nhạc vàng thu hút hằng triệu người xem.
Nhạc vàng không chỉ giúp giới trẻ tìm hiểu lịch sử Việt Nam Cộng Hòa, một số bạn trẻ dùng lời ca tiếng hát làm phương tiện đấu tranh với mong ước phục hồi thể chế tự do.
Nhạc vàng còn được sử dụng để phản kháng làn sóng nhạc Hàn, nhạc Mỹ, nhạc Trung… giữ gìn tình tự dân tộc và văn hóa Việt Nam.
Nhạc vàng được hát khắp nơi từ miền núi xa xăm phương Bắc xuống Cà Mau tận cuối miền Nam và mọi nơi trên thế giới.
Nhạc vàng đã bị “chôn” nhưng vẫn sống, ngày càng sống mạnh. 44 năm qua, nhiều thế hệ tiếp nối vẫn yêu quý nhạc miền Nam, tìm ra sự thật lịch sử và hướng về một ngày đất nước có tự do.
Trong vòng 20 năm Việt Nam Cộng Hòa xây dựng thành công một kho tàng văn hóa dựa trên triết lý nhân bản, khai phóng và dân tộc.
Kho tàng này không chỉ thuộc thể chế Việt Nam Cộng Hòa mà đã trở thành một kho tàng văn hóa Việt Nam.
Nguyễn Quang Duy

Được tạo bởi Blogger.