Long Xuyên Hải Ngoại

Dù số phận mang tới điều gì,

hãy can đảm tranh đấu cho quê hương tự do

Rút súng bắn Tổng thống Mỹ, đạn không nổ, rút tiếp súng khác

Thứ Bảy, 1 tháng 5, 2021 // ,

 Thứ Bảy, ngày 01/05/2021 00:30 AM (GMT+7)

Vị Tổng thống Mỹ này không chỉ là người đầu tiên trở thành mục tiêu bị ám sát khi còn tại vị mà còn là người đầu tiên dùng gậy "đấu" súng. 

Sự kiện: Tin tức Mỹ

Rút súng bắn Tổng thống Mỹ, đạn không nổ, rút tiếp súng khác - 1

Cựu Tổng thống Mỹ Andrew Jackson. Ảnh: History

Theo tạp chí Time, vào ngày 30/1/1835, Andrew Jackson là Tổng thống Mỹ đầu tiên là mục tiêu của một vụ ám sát đầy những tình tiết kỳ lạ.

Hôm đó là một ngày ẩm ướt, đầy sương mù. Sau khi tham dự đám tang của một thành viên quốc hội, ông Jackson rời tòa nhà Quốc hội Mỹ. Trong lúc vị Tổng thống Mỹ đi qua khu East Portico, một họa sĩ thất nghiệp có tên là Richard Lawrence đã tiếp cận ông. 

Lawrence rút một khẩu súng lục Derringer từ áo khoác, nhắm vào Tổng thống Jackson và bóp cò. Không rõ vì lí do gì, đạn không nổ. 

Khi gã họa sĩ chuẩn bị rút khẩu súng thứ hai, ông Jackson đã phát hiện và tấn công kẻ ám sát bằng chiếc gậy chống mang theo bên người. Ở tuổi 67, vị Tổng thống, vốn yếu ớt vì các loại bệnh tật và vết thương, lại bất ngờ có được sức mạnh để tấn công kẻ định giết mình. "Để ta yên! Để ta yên! Ta biết ai đứng sau trò này". 

Rút súng bắn Tổng thống Mỹ, đạn không nổ, rút tiếp súng khác - 2

Minh họa cảnh ông Jackson cầm gậy đối đầu với kẻ ám sát có súng. Ảnh: Superstock

Tuy vấp phải sự kháng cự, Lawrence vẫn kịp rút khẩu súng thứ hai và bóp cò nhưng một lần nữa đạn không nổ.  

Trong chốc lát, trung úy hải quân Thomas Gedney và nghị sĩ bang Tennessee Davy Crockett đã hỗ trợ Tổng thống, khuất phục Lawrence. Bộ đôi này cũng khẩn trương đưa người đứng đầu nước Mỹ lúc bấy giờ tới xe ngựa để ông được đưa tới Nhà Trắng an toàn. 

Theo tạp chí Time, gần một thế kỷ sau, viện Smithsonian của Mỹ đã thử nghiệm với 2 khẩu súng của Lawrence và rất bất ngờ khi đạn nổ ngay phát bắn đầu tiên ở cả 2 súng. Các nhà sử học cho rằng, không khí ẩm ướt ngày hôm đó là lý do khiến đạn không nổ. 

Một chuyên gia vũ khí tính toán rằng, tỷ lệ để 2 khẩu súng đều không nổ khi bóp cò là 1/125.000 (125.000 lần bóp cò, mới có 1 lần đạn không nổ ở cả 2 súng). 

Đây là âm mưu ám sát đầu tiên nhằm vào một Tổng thống Mỹ đương nhiệm, nhưng mọi sự chú ý lại không tập trung vào việc làm thế nào để giữ cho Tổng thống an toàn. Thay vào đó, tâm điểm đổ dồn vào những lời buộc tội và kẻ ám sát. 

Tổng thống Jackson khi đó cho rằng vụ ám sát có động cơ chính trị và cáo buộc chính trị gia đối thủ George Poindexter đã thuê Lawrence ám sát ông. Không có bằng chứng xác thực nào được đưa ra với cáo buộc về chính trị gia Poindexter. 

Rút súng bắn Tổng thống Mỹ, đạn không nổ, rút tiếp súng khác - 3

Ông Jackson khi đó cho rằng vụ ám sát có động cơ chính trị nhưng không có bằng chứng. Ảnh minh họa: Walmart

"Tên của hầu hết các chính trị gia lỗi lạc đều được xét đến với khả năng có liên quan tới kẻ định ám sát Tổng thống. Ông Jackson khi đó phản đối ý kiến cho rằng, kẻ ám sát ông là một gã điên".

Thực tế, biểu hiện "gã điên" thể hiện rõ ở Lawrence. Họa sĩ này không chỉ cho rằng Tổng thống Jackson là người đã giết bố mình, mà còn tự huyễn hoặc cho mình là vua Richard III của nước Anh ở thế kỷ 15. Lawrence cho rằng mình được quyền thừa hưởng các khoản tiền từ thuộc địa ở Mỹ nhưng bị ngăn cản do ông Jackson công khai phản đối ngân hàng quốc gia. 

Tại phiên xét xử vào tháng 4/1835, Lawrence tuyên bố trước tòa: "Này các quý ông, tôi mới là người đưa ra phán quyết với quý vị chứ không phải quý vị phán xét tôi". Họa sĩ này sau đó được tuyên bố vô tội với lý do bị tâm thần và phải sống trong một bệnh viện tâm thần suốt phần đời còn lại. 

Đây không phải lần đầu tiên ông Jackson thoát khỏi "lưỡi hái tử thần". Tạp chí Time năm 1949 đưa tin, cựu Tổng thống Jackson từng mắc nhiều chứng bệnh nguy hiểm như đậu mùa, viêm tủy xương, sốt rét, kiết lỵ, thấp khớp, bệnh tả và giãn phế quản. 

Những căn bệnh này cùng với ảnh hưởng kéo dài của các vết thương trong những lần đấu súng tay đôi đồng nghĩa với việc ông Jackson bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống với thể trạng "không tốt", theo Time. 

__________

Vị Tổng thống vị trúng đạn xuyên qua phổi và rơi vào tình thế nguy hiểm tính mạng nhưng vẫn có câu nói đùa nổi tiếng với vợ và các bác sĩ. Ông là ai và câu nói đùa kia là gì? Mời độc giả cùng đón đọc bài kỳ cuối, được đăng trên mục Thế giới, lúc sáng sớm ngày 2/5.

Nguồn: http://danviet.vn/rut-sung-ban-tong-thong-my-dan-khong-no-rut-tiep-sung-khac-5020211502939252.ht...

Nữ tiếp viên hé lộ ”bí mật bất ngờ” ẩn sau việc đứng chào hành khách lên máy bay

Một nữ tiếp viên hàng không đã thu hút hàng triệu lượt xem trên mạng xã hội sau khi làm video tiết lộ mục đích thực...

Theo Nguyễn Thái - Tổng hợp (Dân Việt)

Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin trong ngày cuối cùng của Sài Gòn

Thứ Sáu, 30 tháng 4, 2021 // ,

 VOA blog - Hoài Hương-VOA

 30/04/2021

Một máy bay của Thủy Quân Lục chiến Mỹ cất cánh từ nóc Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, Việt Nam, ngày 30/4/1975. (AP Photo/Phu)


46 năm về trước, ngày 30/4/1975, hàng ngàn người Mỹ, quan chức, quân nhân Việt Nam Cộng Hòa cùng với thường dân di tản khỏi Sài gòn. Trong số những người cuối cùng rời Sài gòn trong chiến dịch mệnh danh là Gió Lốc – Operation Frequent Wind, có vị Đại sứ cuối cùng của Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam: Đại sứ Graham Martin.

Chiến dịch Gió Lốc do Thủy quân Lục chiến Mỹ thực hiện, được xúc tiến vào giờ thứ 25 của cuộc chiến, diễn ra giữa cơn hoảng loạn, trong nỗi tuyệt vọng và kinh hoàng của người dân miền Nam trước viễn ảnh đen tối là nếu không rời Sài gòn, họ sẽ rơi lại sau bức màn sắt của một chế độ cộng sản. Đa số những người vào được khuôn viên tòa đại sứ là những quân dân cán chính Việt Nam ít nhiều có liên hệ với người Mỹ và thân nhân của những người này.

Chiến dịch Gió Lốc cũng được thực hiện trong khi vị đại sứ cuối cùng của Mỹ tại Sài Gòn nhất định từ chối bước lên máy bay di tản, và cố tìm cách kéo dài thời gian để có thể sơ tán càng nhiều người miền Nam chừng nào hay chừng ấy, bất chấp sự hối thúc và cả lệnh trực tiếp từ Phòng Bầu dục, Tòa Bạch Ốc.

Phi công lái trực thăng sơ tán Đại sứ Martin

Tháng tư năm 1975, Gerry Berry là viên phi công của Thủy quân Lục chiến Mỹ đã đáp chiếc trực thăng Sea Knight lên nóc Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài gòn. Sứ mạng của chàng phi công trẻ là sơ tán ông đại sứ.

Ông kể lại với báo Des Moines Register:

“Tôi đáp máy bay và nói ‘tôi đến đây để sơ tán ông đại sứ’, một người trả lời, ‘Được, nhưng ông ấy chưa sẵn sàng’… Thế rồi họ đẩy nhiều người Việt và công dân các nước khác lên đầy chiếc trực thăng của tôi rồi bảo, anh đi đi!”

Người tị nạn miền Nam Việt Nam trên một hàng không mẫu hạm Mỹ trong chiến dịch di tản Gió Lốc - Operation Frequent Wind khởi sự ngày 29/4/1975.
Người tị nạn miền Nam Việt Nam trên một hàng không mẫu hạm Mỹ trong chiến dịch di tản Gió Lốc - Operation Frequent Wind khởi sự ngày 29/4/1975.


Trong suốt 18 tiếng đồng hồ tiếp theo, Berry và 70 phi công Thủy quân Lục chiến, Hải quân và Air America bay liên tục từ tòa đại sứ tới các tàu hải quân neo ở ngoài khơi, vận chuyển tổng cộng 7000 nhân viên tòa đại sứ, công dân nước ngoài và công dân Nam Việt Nam tới nơi an toàn.

“Rất nhiều người là phụ nữ, trẻ em. Họ chỉ được mang theo một túi nhỏ, không ai được mang theo vali.”

Chiếc trực thăng thông thường chỉ chở 25 quân nhân với trang thiết bị và súng ống, chất đầy từ 60 tới 75 người mỗi chuyến.

Berry không biết ông đã giải cứu bao nhiều người khỏi Sài gòn, nhưng ông bay ít nhất 14 chuyến.

“Không ai có thì giờ đếm cả,” ông nói.

'Kẻ thù đang tới gần'

“Kẻ thù đang tới gần hơn – họ chỉ còn cách có vài dặm bên ngoài thành phố,” Berry nói. Nhưng Đại sứ Graham Martin nhất định không xuất hiện.

“Hình như ông tin rằng sẽ có một thỏa thuận giờ chót, và bằng cách nào đó sẽ giữ lại được Sài gòn. Cho nên ông chờ cho tới phút chót.”

Berry là phi công đầu tiên đáp xuống nóc tòa đại sứ chiều hôm 29/4/75, nhưng mỗi lần anh đáp xuống lại sau khi sơ tán một đợt, ông Martin vẫn không chịu ra mặt.

“Phải ghi công ông ấy,” Berry nói. “Ông ấy chưa đưa được hết được những người ông muốn di tản, và biết đã sắp sửa hết giờ, cho nên ông tìm cách kéo dài tối đa cuộc di tản bằng trực thăng.”

Cuộc tản cư bằng phi cơ dân sự khởi sự từ tháng Ba, đã chấm dứt ngày hôm trước khi phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích.

Cuộc sơ tán tiếp tục qua đêm, và mưa gió càng gây khó khăn hơn cho các chuyến bay.

“Đám đông chờ được sơ tán vẫn đông, không ai có thì giờ nghỉ ngơi ngoại trừ đây đó 10 phút để chờ đổ xăng và uống vội một tách cà phê, ăn một quả táo, thế thôi.”

Cuối cùng, độ 3 giờ sáng, Berry bay trở lại tòa đại sứ lần cuối cùng, nơi mà các binh sĩ Thủy quân Lục chiến trên nóc tòa nhà lại sắp sửa đẩy một đợt người khác lên máy bay.

Anh nói:

“Nói với ông đại sứ… chiếc trực thăng này sẽ không rời khỏi nóc tòa đại sứ cho tới khi nào ông đại sứ lên máy bay,” Berry gằn giọng, “Tổng thống nói đây là lúc phải ra đi!”

Đại sứ Mỹ tại miền Nam Việt Nam Graham Martin trả lời báo chí trên tàu USS Blue Ridge sau khi sơ tán khỏi tòa đại sứ ở Sài Gòn ngày 30/4/1975. (AP Photo)
Đại sứ Mỹ tại miền Nam Việt Nam Graham Martin trả lời báo chí trên tàu USS Blue Ridge sau khi sơ tán khỏi tòa đại sứ ở Sài Gòn ngày 30/4/1975. (AP Photo)



Hai phút sau, Đại sứ Graham Martin đã có mặt trên chiếc trực thăng, trực chỉ hàng không mẫu hạm USS Blueridge.

Chiếc trực thăng có ký hiệu Lady Ace 09 do Đại úy Jerry Berry điều khiển, đưa Đại sứ Graham Martin ra tàu USS Blue Ridge vào lúc 4g58 phút.

Một khi Đại sứ Martin rời Sài gòn, cuộc di tản chính thức chấm dứt.

Những người lính Mỹ cuối cùng ở Việt Nam

Sau khi chiếc máy bay trực thăng trên đó có Đại sứ Graham Martin cất cánh từ nóc Tòa đại sứ, 11 binh sĩ Mỹ bị bỏ lại để giữ an ninh. Họ phải chờ đợi suốt một giờ. Thời gian 1 tiếng ấy dài như ‘vô tận’, ông Steve Schuller nói vói phóng viên Kenton Robinson của tờ báo The Day ở New London, bang Connecticut vào năm 2005.

Lúc đó là sáng sớm ngày 30/4/1975 và trời hãy còn tối. James Kean, viên chỉ huy toán lính Mỹ kẹt lại, nói:

“Chúng ta có hai sự lựa chọn: Một là tìm cách thoát thân bằng cách trèo từ nóc xuống bên hông tòa nhà này, hoặc chúng ta có thể ở đây tử thủ, đây sẽ là Alamo của năm 1975.”

Tất cả 11 binh sĩ đều đồng ý ở lại tử thủ.

“Mặc kệ, tất cả chúng ta sẽ chết ở đây. Mọi người hãy chuẩn bị. Rồi điều gì ra sao thì ra.”

Sau này, người chỉ huy báo cáo trong một phúc trình rằng đã 4 ngày rồi các quân nhân này chưa chợp mắt.

Khi họ tưởng như chờ đợi đã mỏi mòn, Berry và phi công hai chiếc trực thăng khác quay lại để di tản những quân nhân TQLC cuối cùng. Chiếc máy bay cuối cùng cất cánh vào lúc 7g53 sáng ngày 30/4.

44 năm sau, Berry, mắt ngấn lệ, kể lại với tờ Des Moines Register:

“Chúng tôi đã sơ tán được những binh sĩ Mỹ cuối cùng ra khỏi Sài gòn, nhưng hãy còn hàng ngàn người Việt trong khuôn viên tòa đại sứ đang chờ được sơ tán.”

Thành phố Sài gòn mất tên trong cùng ngày.

Theo một bài viết của ông Walter J. Boyne, cựu Giám đốc Bảo tàng Hàng không và Không gian ở thủ đô Washington, đăng trên tạp chí Air Force ngày 1/4/2000, thì còn lại từ 250 tới 400 người Việt Nam đã được hứa sơ tán, bị bỏ lại, trong “hành động phản bội cuối cùng.”

Đoạn kết

Cuộc di tản được coi như đoạn kết chính thức của chiến tranh Việt Nam, mặc dù tới ngày 7/5 Tổng thống Gerald Ford mới ký văn kiện pháp lý chính thức chấm dứt sự can dự của Mỹ tại Việt Nam.

Chiếc trực thăng CH-46 Sea Knight là chiếc trực thăng đã bốc Đại sứ Graham Martin ra khỏi đại sứ quán Hoa Kỳ ở Sài gòn vào sáng sớm ngày 30/4/1975 trong chiến dịch Gió Lốc, đang được trưng bày tại Viện bảo tàng Hàng không Flying Leatherneck tại Trạm không quân Thủy quân lục chiến Miramar, ở San Diego, bang California. Viện bảo tàng này là nơi triển lãm và chứa các hiện vật liên quan đến lịch sử và di sản của Hàng không Thủy quân lục chiến Mỹ, nơi có bộ sưu tập máy bay lịch sử lớn nhất của Hoa Kỳ. Bộ sưu tập và viện bảo tàng Flying Leatherneck trực thuộc Viện Bảo tàng Quốc gia của Thủy quân Lục chiến Mỹ.

Sơ lược tiểu sử Đại sứ Graham Martin

Graham A. Martin ra đời ngày 22/9/1912 tại bang North Carolina, ông tốt nghiệp đại học Wake Forest năm 1932. Một thời gian ngắn, ông làm báo và là phóng viên tại Washignton DC cho nhiều tờ báo miền Nam. Năm 1941, ông gia nhập quân đoàn Không quân với cấp bậc Trung úy, sau thăng cấp lên Đại tá. Ông từng là sĩ quan tình báo trong Thế chiến II. Chuyển sang ngành Ngoại giao vào năm 1947, ông từng phục vụ tại Paris trong 8 năm, bổ nhiệm làm Thứ trưởng Ngoại giao năm 1959, Phụ tá đặc biệt cho đại sứ Dillon, sau đó Đại diện của Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc và các tổ chức quốc tế khác ở Geneve. Năm 1963, ông được bổ nhiệm vào chức Đại sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan cho tới năm 1967.

Nhưng ông được nhắc đến nhiều nhất trong cương vị đại sứ Mỹ cuối cùng tại Sài Gòn (1973-1975). Ông bị một số nhà phân tích chỉ trích là đánh giá thấp mức độ nghiêm trọng của tình hình miền Nam Việt Nam trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến, và chính vì vậy, đã để mất nhiều thời giờ quý báu trước khi đồng ý tiến hành chiến dịch di tản khỏi Sài gòn, khi hàng ngàn binh sĩ Mỹ, quan chức Việt Nam Cộng Hòa, và người Việt làm việc cho chính phủ Mỹ bị bỏ lại. Ông mạnh mẽ bênh vực các quyết định của ông, và một số người còn cho rằng Đại sứ Martin đã bất chấp nguy hiểm tới bản thân, kéo dài cuộc di tản để cứu càng nhiều người càng tốt.

Đại sứ Graham Martin và phu nhân có hai ái nữ, Janet Martin Tantensapya và Nancy Lane, và một quý tử, Michael, 4 cháu nội ngoại. Nhưng ngoài ra ông còn có một người con nuôi, Trung úy Không quân TQLC Glenn Dill Mann tử trận trên chiến trường Việt Nam vào năm 1965, thời ông Martin làm đại sứ Hoa Kỳ tại Thái Lan. Bàn làm việc của Đại sứ Martin tại tòa đại sứ Sài gòn luôn luôn trưng một tấm ảnh của người con nuôi quá cố, Trung úy Glenn Mann (1940-1965) … Một số chuyên gia an ninh Mỹ phân tích rằng sự mất mát lớn này đã khiến Đại sứ Martin khó ch.ấp nhận thất bại trong chiến tranh Việt Nam.

Đại sứ Graham Martin qua đời tại bệnh viện Forsythe ở Winston-Salem, bang North Carolina, vì bệnh tim vào năm 1990 ở tuổi 77. Ông được đưa tới nơi yên nghỉ cuối cùng tại nghĩa trang quân đội Arlington, gần thủ đô Washington

30/04: Nhắc lại cuộc đời cố tổng thống VNCH Trần Văn Hương

Thứ Ba, 27 tháng 4, 2021 // ,

 

  • Nguyễn Quang Duy
  • Gửi bài từ Melbourne, Australia
HQ504

NGUỒN HÌNH ẢNH,STAFF

Chụp lại hình ảnh,

Tháng 3/1975: tàu hải quân HQ504 chở 7000 người từ Huế và Đà Nẵng chạy loạn vào Nam sau khi các đô thị phía Bắc của VNCH tan rã trước sức tấn công của Lực lượng VNDCCH

Trong buổi lễ nhậm chức Tổng thống ngày 21/4/1975 ông Trần Văn Hương hứa:

"Tôi xin hứa với anh em trong quân đội là ngày nào anh em còn chiến đấu, tôi luôn luôn đứng bên cạnh anh em và ngày nào, chẳng may, mà đất nước không còn nữa thì cái nắm xương khô của tôi sẽ nằm bên cạnh đống xương của tất cả anh em binh sĩ."

Ông Hương đã thực hiện lời hứa, từ chối lời mời di tản của người Mỹ và người Pháp, từ chối nhận "quyền công dân" dưới thể chế cộng sản, chết trong nghèo túng sau năm 1975. Nhân dịp 30/4 năm nay xin được kể lại về ông.

Lịch sử có nợ gì Tướng Dương Văn Minh?

Sinh năm 1902 tại Vĩnh Long, nhờ học giỏi ông Trần Văn Hương được ra Hà Nội học trường Cao đẳng Sư phạm, cùng thời với nhà cách mạng Nguyễn Thái Học.

Sau khi tốt nghiệp ông về Sài Gòn dạy môn văn chương ở Collège Le Myre De Villers, thành lập từ năm 1879, trường xưa nhất tại Việt Nam mà năm 1953 được đổi tên thành trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu nổi tiếng.

Tháng 3/1945, Nhật đảo chánh Pháp, trao trả độc lập cho Việt Nam, vua Bảo Đại giao cho Trần Trọng Kim thành lập Chính phủ, và ông Trần Văn Hương được làm Đốc Học tỉnh Tây Ninh.

Tháng 8/1945, ông Hương tham gia Việt Minh, làm Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Kháng chiến tỉnh Tây Ninh.

Đến năm 1946, ông Hương thấy Việt Minh quy chụp cho nhiều trí thức là Việt gian rồi đem thủ tiêu, ông về quê tuyên bố bất hợp tác, lên Sài Gòn làm tiệm thuốc Tây.

Năm 1953, ông Hương cùng ông Trần Văn Văn và một số nhân sĩ lập đảng Phục Hưng, và ông Hương được cử làm chủ tịch.

Đấu tranh chính trị

Tháng 10/1954, ông Trần Văn Hương được bổ nhiệm làm Đô Trưởng thủ đô Sài Gòn nhưng xin từ chức sau vài tháng.

Ngày 26/4/1960, ông Hương cùng 17 nhân sĩ quốc gia thành lập nhóm Tự Do Tiến Bộ, tổ chức họp báo công bố một bản tuyên cáo tại khách sạn Caravelle.

Nội dung Bản Tuyên Cáo rất ôn hòa chỉ yêu cầu Tổng thống Ngô Ðình Diệm mở rộng chính quyền để các nhà trí thức có thể hợp tác với chính phủ nếu được yêu cầu.

Ngày 11/11/1960, ông Hương ký tên ủng hộ cuộc đảo chánh do Đại tá Nguyễn Chánh Thi khởi xướng, ông bị bắt trong tù ông có viết một tập thơ lấy tên là "Lao trung lãnh vận" (Những vần thơ lạnh lẽo ở trong tù).

Sau cuộc đảo chính ngày 1/11/1963, ông Trần Văn Hương lại được bổ nhiệm làm Đô trưởng Sài Gòn, nhưng chỉ vài tháng ông được Quốc trưởng Phan Khắc Sửu mời ra làm Thủ tướng.

Ông làm thủ tướng được 84 ngày thì Trung tướng Nguyễn Khánh lật đổ Chính phủ dân sự và Quốc trưởng Phan Khắc Sửu bị truất phế.

Nguyễn Văn Thiệu

NGUỒN HÌNH ẢNH,DAVID HUME KENNERLY

Chụp lại hình ảnh,

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (bìa phải) và Phó TT Trần Văn Hương (kiếng đen) thăm nghĩa trang quân đội ở Thủ Đức - ảnh chụp năm 1973

Người con trai đầu của ông Hương tên là Trần Văn Dõi tự là Lưu Vĩnh Châu theo Việt Minh ra Bắc khi biết ông Hương làm Thủ tướng có viết một lá thư nhờ ông Ung Văn Khiêm là Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Bắc Việt trao cho ông Hương.

Ông Hương nhận thư, thảo luận với người con thứ tên là Trần Văn Ðính cả hai đồng ý chuyện quốc gia phải đặt trên chuyện gia đình, bởi thế ông đã từ chối không liên lạc với người con ở miền Bắc.

Năm 1967, ông Hương cùng ông Mai Thọ Truyền lập liên danh Người Gieo Mạ ra tranh cử Tổng thống nhưng chỉ được 10% phiếu cử tri ủng hộ đứng hàng thứ tư.

Cộng tác với ông Thiệu

Tháng 5/1968, Tổng thống Nguyễn văn Thiệu mời ông Hương ra làm Thủ tướng nhưng cũng chỉ được 96 ngày thì ông xin từ chức cũng không cho biết lý do.

Quyết định này làm nhiều người ủng hộ ông Hương thất vọng, vì trước đó liên danh Người Gieo Mạ đã cùng các liên danh thất cử khác họp báo tố cáo có gian lận bầu cử và yêu cầu Quốc hội Lập hiến hủy bỏ kết quả bầu cử để tổ chức một cuộc bầu cử khác.

Giáo sư Sử Địa Lâm Vĩnh Thế hỏi ông Hương vì sao ông đã nhận lời làm Thủ tướng được ông trả lời như sau:

"… Lúc đó chỉ có ông Thiệu là có khả năng chống cộng thật sự, lại nữa vụ Mậu Thân cho thấy Việt cộng đã mạnh lắm rồi, mà Hoà Kỳ thì lại có ý chủ hòa, ông Johnson thì ép mình phải đi hoà hội Paris… nên cần phải ủng hộ ông Thiệu."

Giáo sư Thế nhận xét ông Hương chống cộng triệt để nhưng ông cũng là một người yêu nước chân chính để vì đại cuộc mà bỏ qua mâu thuẫn cá nhân.

Năm 1971, ông Hương đứng chung liên danh với ông Nguyễn Văn Thiệu ứng cử và đắc cử chức vụ Phó tổng thống.

Ông Hương rất liêm chính nên những kẻ tham nhũng rất sợ ông, miền Trung bị lụt ông tới ngay để thăm dân và cứu trợ, trong chiến dịch Hạ Lào khi Hoa Kỳ thất hứa không trợ giúp không quân cho miền Nam ông họp báo chỉ trích Mỹ…

Báo chí đặt cho ông danh hiệu "Cụ Già Gân" còn dân chúng miền Nam trân quý kêu ông bằng "Cụ Hương" vì là văn viết nên tôi xin phép gọi bằng ông Hương.

Trong việc điều hành đất nước ông Hương rất gắn bó với ông Nguyễn văn Thiệu cho đến khi ông Thiệu từ chức dựa trên Hiến Pháp chính thức trao quyền Tổng thống cho ông.

Từ chức tổng thống…

Trong bài diễn văn trước Lưỡng viện Quốc Hội ngày 26/4/1975, Tổng thống Trần Văn Hương cho biết đã tiếp xúc với Đại tướng Dương Văn Minh để mời ông Minh đảm nhiệm chức vụ Thủ Tướng, nhưng ông Minh không chịu mà đòi phải nhường cho ông Minh chức Tổng thống.

Ông trả lời ông Minh là không thể trao quyền cho ông ấy vì còn có Quốc Hội và phải tuân theo Hiến Pháp vì thế ông cho Quốc Hội biết để mọi người bàn tính và quyết định.

Ngay ngày hôm sau Quốc Hội họp, đồng ý sửa lại Hiến Pháp và trao quyền Tổng thống cho ông Dương Văn Minh để thương thuyết với phía cộng sản.

Sang ngày 28/4/1975, ông Hương chính thức từ chức và trao quyền Tổng thống cho ông Dương Văn Minh.

Từ chối di tản…

Ngày 29/4/1975, Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin có đến nhà gặp ông Hương vừa để từ giã về nước, vừa để gởi lời Chính Phủ Hoa Kỳ mời ông Hương sang Mỹ lánh nạn, ông trả lời:

"Thưa Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm, đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó.

"Nay ông Đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cám ơn ông Đại sứ, nhưng tôi đã suy nghĩ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi.

"Tôi cũng dư biết cộng sản sẽ vào Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam.

Tổng thống Dương Văn Minh (đeo kính, cúi đầu) bị bộ đội cộng sản đưa đi

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh,

Tổng thống Dương Văn Minh (đeo kính, cúi đầu) bị bộ đội cộng sản đưa đi trong ngày 30/04/1075

"Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nổi thống khổ của người dân mất nước.

"Cám ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi."

Trước đó, Tòa Đại sứ Pháp cũng ngỏ lời sẵn sàng đưa ông rời khỏi Việt Nam để đi Pháp.

Nước mất nhà tan

Theo Hồi ký của bà Phan Cẩm Anh vào tối ngày 30/4/1975 hai vợ chồng cháu ông Hương là đại úy Phan Hữu Cương và trung úy Trần Mai Hương (là bạn thân của bà Phan Cẩm Anh) đã uống thuốc ngủ tuẫn tiết ngay tại nhà ông Hương.

Đại úy Phan Hữu Cương là cháu ruột kêu ông Hương bằng cậu và cũng là sĩ quan cận vệ cho ông Hương nên gia đình ở chung với ông Hương.

Họ để lại lời trăn trối: "…xin nhờ lòng tha thứ của cụ Hương và gia đình vì không thể sống khi đất nước rơi vào tay kẻ thù…", người nhà phát hiện nhưng chỉ cứu được người vợ.

Từ chối 'quyền công dân'

Ngày 28/4/1975 sau khi từ chức tổng thống, ông Hương dọn về ngôi biệt thự nhỏ và cũ nằm ở cuối con hẻm đường Phan Thanh Giản vách tường của ngôi nhà đã có nhiều chỗ nứt nẻ, nền nhà nhiều chỗ gạch vỡ tung lên, màu vôi không được trùng tu sơn quét.

Giáo sư Lâm Vĩnh Thế cho biết sau Hội Nghị Hiệp thương Thống nhất Hai Miền Nam Bắc, chính quyền mới muốn trao trả "quyền công dân" cho ông Hương tại ngôi nhà để tuyên truyền.

Bà Phan Cẩm Anh cho biết khi một cán bộ cộng sản đọc "chính sách khoan hồng và rộng lượng" của nhà nước đối với những "thành phần" như ông Hương, ông trả lời:

"Tôi xin phép từ chối, không nhận cái quyền công dân này vì dù gì tôi cũng là người lãnh đạo miền Nam, trong khi binh sĩ, nhân viên các cấp chỉ vì thừa lịnh của chúng tôi mà giờ đây vẫn còn bị giam cầm trong các trại cải tạo.

"Tôi sẽ là người sau cùng nhận cái quyền công dân này, sau khi binh sĩ và nhân viên của chúng tôi đã được thả và nhận lại quyền công dân."

Những năm tháng cuối đời

Vì từ chối nhận "quyền công dân" ông Hương không được cấp hộ khẩu, không có phiếu mua lương thực, và còn bị quản thúc ba năm tại gia.

Ông Hương phải sống đạm bạc, thiếu thốn, ốm đau và cũng như những người miền Nam khác để có thể sống qua ngày ông phải bán dần đồ vật trong nhà từ bộ áo vest cũ đến những đồ kỷ niệm.

Bà Trần Văn Văn và bạn bè từ Pháp gởi thuốc về giúp ông chữa trị, thuốc không dùng hết cũng được mang ra chợ trời thêm chút gạo bó rau cho gia đình.

Bà Phan Cẩm Anh bạn thân của cháu gái ông Hương có chồng là bác sĩ mới ra trường, khi biết ông Hương bệnh nặng cần người chăm sóc, ông chồng bác sĩ đã tình nguyện thường xuyên đến tận nhà để chăm sóc cho ông.

Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa với tên gọi mới là Nghĩa trang Nhân dân Bình An tọa lạc tại phường Bình An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, Việt Nam
Chụp lại hình ảnh,

Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa với tên gọi mới là Nghĩa trang Nhân dân Bình An tọa lạc tại phường Bình An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, Việt Nam

Muốn nằm cạnh anh em binh sĩ

Cựu tổng thống Trần văn Hương mất ngày 27/1/1982, gia đình nghèo đến độ không còn tiền mua hòm, người tài xế cũ của ông xin được phúng điếu chiếc quan tài, người chủ trại hòm ở Chợ Lớn, một người Việt gốc Hoa, nghe nói mua cho ông Tổng thống xin chỉ lấy nửa giá tiền của chiếc quan tài.

Ông Hương có ước nguyện được chôn trong nghĩa trang Quân đội Biên Hòa để được nằm bên anh em binh sĩ nhưng không được chính quyền cộng sản chấp nhận, nên người nhà đã quyết định hỏa táng ông tro cốt được rải trong khu vực.

Hơn 40 năm qua người Việt quốc gia vẫn trân quý công ơn của ông, ở hải ngoại nhiều cộng đồng đến ngày ông mất đã cử hành lễ giỗ để tri ân một người đã một lòng một dạ xây dựng Việt Nam Cộng Hòa.

Ôn lại cuộc đời ông, tôi nhớ lại lời học giả Phạm Quỳnh viết trong bài "Đi tìm một chủ nghĩa Quốc Gia" xuất bản năm 1938:

"Một người theo chủ nghĩa quốc gia là một người hết lòng gắn bó với đất nước và nòi giống mình, có một ý thức cao về tình đoàn kết quốc gia và truyền thống lịch sử; là một người yêu nước, nhưng yêu nước không chỉ bằng tình cảm mà còn bằng lý trí, một người muốn nâng mức độ yêu nước của mình lên thành một chủ thuyết đạo đức và chính trị."

Ông Hương quả là một mẫu người tiêu biểu theo chủ nghĩa quốc gia, ở miền Nam có không ít những người như ông, nhưng dường như họ đã thất bại xây dựng được một chủ thuyết về đạo đức và chính trị chung cho cả nước, để cuối cùng bị chủ nghĩa cộng sản quốc tế xóa nhòa.

Nay, ở thế kỷ thứ 21, người Việt lại phải đối đầu với chủ nghĩa (quốc tế) toàn cầu mà mục tiêu cũng là xóa bỏ văn hóa, đạo lý, truyền thống dân tộc và xóa nhòa mọi nền tảng kinh tế, chính trị, xã hội và cả biên giới của mọi quốc gia.

Nhân 30/04, tôi nghĩ chúng ta cần tìm hiểu những điểm mạnh, điểm yếu, những thành công và thất bại của các thế hệ trước, để cùng nhau gìn giữ và phát triển những điều hay, lẽ phải, đồng thời bảo vệ được bờ cõi ông cha để lại.

Bài thể hiện quan điểm của ông Nguyễn Quang Duy từ Melbourne, Australia

Được tạo bởi Blogger.