Long Xuyên Hải Ngoại

Dù số phận mang tới điều gì,

hãy can đảm tranh đấu cho quê hương tự do

Sông Mê Kông 'trơ đáy', ĐBSCL lo hạn mặn khốc liệt: Sống chung với 'nước kém'

Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2019 // ,
26/7/2019

Nước sông Mê Kông ở thượng nguồn xuống thấp lịch sử ngay trong mùa mưa đã đặt hạ nguồn ĐBSCL trước một bối cảnh mới, sống chung với nước kém thay vì "sống chung với lũ” như trong quá khứ.


Mô hình trồng sen nuôi cá kết hợp với du lịch vào mùa lũ ở H.Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp
Ảnh: Đình Tuyển
TS Dương Văn Ni, Khoa Môi trường - Tài nguyên thiên nhiên (Trường ĐH Cần Thơ), cho biết ngay tại ĐSBCL có 2 vùng trữ lũ rất lớn là Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên, được xem là 2 túi nước điều hòa cho đồng bằng.
“Nhưng nhiều năm trước, do chạy theo sản lượng lúa, chúng ta đã đắp rất nhiều đê bao để ngăn không cho nước lũ tràn vào khu vực này, để tăng diện tích canh tác lúa vào mùa lũ lên. Cái đó làm cho không gian trữ nước của đồng bằng bị thu hẹp, lượng nước ngọt không giữ lại được, mùa hạn đến thì lượng nước tại chỗ không còn đủ để bổ sung cho sông Hậu, sông Tiền đẩy bớt nước mặn ra biển. Và càng vào mùa khô hạn thì xâm nhập mặn càng sâu vào nội đồng”, ông Ni nói.
Không ngọt hóa để trồng lúa
Th.S Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia độc lập về sinh thái Mê Kông, nói thẳng: “Kinh nghiệm như năm 2016 cho thấy thì ít có biện pháp nào để đối phó với những năm khô hạn cực đoan. Dù có công trình cống đập ngăn mặn thì cũng không có tác dụng ngăn mặn vì bên trong không đủ nước thì ngăn mặn vô ích”.

Nước sông Mê Kông xuống thấp, ĐBSCL không có lũ sinh kế của người dân vùng đầu nguồn An Giang, Đồng Tháp sẽ gặp nhiều khó khăn
Theo ông Thiện, về lâu dài, để tăng cường sức chống chịu của ĐBSCL thì cần khôi phục không gian của dòng sông, để nước có thể vào lại ruộng đồng phải bắt đầu bằng việc giảm bớt một vụ lúa trong mùa lũ ở Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười. Lũ vào được 2 vùng này không chỉ tích nước điều hòa dòng chảy cho mùa khô mà còn giảm ngập úng cho các đô thị, đường sá vùng hạ lưu, những nơi không có đê bao.
“Chính Nghị quyết 120 của Chính phủ cũng đã chỉ rõ, sản lượng lúa không còn là ưu tiên mà chất lượng mới quan trọng. Còn vùng ven biển thì nên chuyển sang hệ canh tác mặn, không nên cố ngọt hóa để canh tác lúa khắp nơi”, ông Thiện nói.
PGS-TS Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu (Trường ĐH Cần Thơ), cho rằng ĐBSCL cần giảm ngay diện tích lúa những nơi nào không đảm bảo nước ngọt hay kém hiệu quả, bởi lúa chính là cây trồng tốn rất nhiều nước. Ước tính để làm ra 1 tấn lúa vào mùa khô phải sử dụng 4.000 - 5.000 m3nước.
“Và ngay lúc này, bộ ngành T.Ư và các địa phương ĐBSCL cần nhanh chóng khuyến cáo cho người dân có những bước chuẩn bị để ứng phó thiên tai”, ông Tuấn nói.
Tìm không gian trữ lũ
Chia sẻ về những thay đổi ở địa phương trong bối cảnh nước sông Mê Kôngngày một thất thường, ông Trần Anh Thư, Phó chủ tịch UBND tỉnh An Giang - địa phương nằm ở đầu nguồn sông Cửu Long, tỏ ra đồng tình với quan điểm cần tạo thêm những không gian trữ lũ, tìm cách cân bằng nước giữa mùa lũ và mùa khô.
Thực tế, việc trữ lũ đang triển khai từng bước ở các địa phương đầu nguồn sông Hậu, sông Tiền là An Giang và Đồng Tháp. Theo ông Thư phân tích, có 3 cấp độ trữ lũ, ở cấp độ quốc tế tức cả lưu vực thì quan trọng nhất là nước ở Biển Hồ, Campuchia. Kế đến là trữ lũ cấp độ quốc gia, có thể tạo ra các hồ chứa từ 2.000 - 5.000 ha ở vùng đầu nguồn An Giang, Đồng Tháp.
Và thứ ba là dựa vào cộng đồng. Ở cấp độ cộng đồng rất khả thi và An Giang, Đồng Tháp đang chuyển dịch từng bước. Cụ thể hiện nay hằng năm tùy theo lũ lớn, lũ nhỏ mà 1/3 diện tích trên tổng số 170.000 ha sản xuất lúa vụ 3 (sản xuất vào mùa lũ - PV) nằm trong đê bao của An Giang sẽ được chuyển đổi sang làm các mô hình canh tác khác, kết hợp với trữ nước lũ như trồng lúa nổi - cá, sen - cá, bông súng - cá… Cùng với đó là khoảng 20.000 ha đất lúa kém hiệu quả của vùng Tri Tôn giáp với Kiên Giang cũng đã chuyển sang trồng cây ăn trái, rau màu.
“Thay đổi trông thấy được là An Giang đã giảm số lượng vụ lúa từ 3 năm trồng 8 vụ xuống còn 2 năm trồng 5 vụ lúa. Tức là cứ 1 năm trồng 3 vụ lúa, thì năm tiếp theo, sẽ chỉ trồng 2 vụ, diện tích trồng lúa vụ 3 sẽ được mở cống lấy nước lũ vào đồng, vừa trữ nước điều hòa cho sông vừa bổ sung dinh dưỡng cho đồng ruộng. Mong muốn của An Giang là ngày nào đó sẽ chỉ còn làm 1 vụ lúa đông xuân, còn lại là trồng màu 2 vụ và dành khoảng 1 tháng mỗi năm để xả lũ vào đồng”, ông Thư nói.
Tương tự như An Giang, tại Đồng Tháp, các huyện đầu nguồn của tỉnh này cũng đã ngưng không mở rộng đê bao trồng lúa vụ 3. Nhiều mô hình canh tác nông nghiệp mùa lũ kết hợp du lịch đã được triển khai tại các huyện Tháp Mười, Hồng Ngự, Tân Hồng… “Từ năm 2017, huyện đã ngưng sản xuất 22.000 ha lúa vụ 3 để tránh rủi ro thiệt hại do hạn, mặn. Nhiều mô hình nuôi tôm được khuyến khích triển khai mang lại hiệu quả cao”, ông Trần Hoàng Dũng, Trưởng phòng NN-PTNT H.Trần Đề, cho biết.
Tuy nhiên, theo TS Dương Văn Ni, việc tăng diện tích trữ lũ ở ĐBSCL sẽ phải làm dần dần, và chuyển đổi các mô hình sản xuất cũng không thể thực hiện trong “một sớm một chiều”. Các địa phương sẽ phải tính đến sự đồng thuận của người dân, đến đầu ra sản phẩm, thị trường, rồi các mô hình canh tác, phù hợp với từng vùng, từng điều kiện đất, nguồn nước khác nhau.
Trồng bắp nuôi bò và trữ lũ
UBND tỉnh An Giang cho biết tại tỉnh này đang triển khai dự án đưa 22.000 con bò sữa về nuôi tại địa phương. Mỗi năm cần từ 30.000 - 50.000 ha trồng cây bắp, cỏ cho bò ăn.
Từ mô hình này, một số vùng sản xuất nông nghiệp của địa phương sẽ được định hướng chỉ trồng 1 vụ lúa đông xuân, còn lại là trồng 2 vụ bắp cho bò, thu nhập cao hơn 2 vụ lúa. Sau khi thu hoạch bắp cho bò, người nông dân vẫn đủ thời gian để xả lũ vào đồng trữ nước.
Theo Thanh Niên


Độc đáo gốm Khmer An Giang

Thứ Tư, 8 tháng 5, 2019 //
08/05/2019 - 08:23

Người Khmer Nam bộ nói chung và An Giang nói riêng nổi tiếng với nhiều nghề truyền thống như rèn, dệt tơ lụa - thổ cẩm, nấu đường, làm rượu thốt nốt… nhưng có lẽ lâu đời, độc đáo nhất chính là nghề gốm ở làng An Thuận, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.


Tạo hoa văn, họa tiết.
“Đặc sản” đất làm gốm
Theo một số nghệ nhân cao tuổi, làng gốm An Thuận xưa được dân địa phương gọi là sóc Phnompi, tiếng Khmer có nghĩa là vùng đất đồi. Nhờ gốm mà nơi đây tấp nập người xe mua bán.
Sản phẩm truyền thống của làng gốm Khmer An Thuận khá đa dạng về mẫu mã, hình dáng với các loại đồ gia dụng quen thuộc như: nồi, niêu, trã, lu, vại, bình, cà ràng (một loại bếp lò), ống khói dùng cho những lò nấu đường thốt nốt… Những sản phẩm này đã có uy tín trên thị trường, không chỉ người Khmer mà cả người Việt, người Hoa đều ưa chuộng.
Ngoài bí quyết gia truyền, sản phẩm thu hút được khách hàng còn nhờ vào sự tạo dáng đầy ngẫu hứng, kỹ thuật nung độc đáo của các nghệ nhân và đặc biệt là chất lượng đất.
Một nghệ nhân lâu năm của làng gốm cho biết, đất làm ra các sản phẩm gốm ở đây được khai thác dưới chân ngọn đồi Nam Quy, cách làng An Thuận khoảng 3km. Đây là một loại đất sét rất đặc biệt vì vừa nhuyễn, vừa mịn và có màu xám.
Theo kinh nghiệm của những người làm gốm lâu năm loại đất này thích hợp nhất để làm gốm và không nơi nào có được. Để làm gốm, đất được các nghệ nhân đem ủ một thời gian, sau đó mới giã cho thật mịn, rồi loại bỏ hết tạp chất sạn, sỏi.
Để tạo dáng sản phẩm, các nghệ nhân trộn đất với nước theo tỷ lệ thích hợp sao cho đất dẻo mà không nhão, không khô. Đây là một khâu quan trọng thể hiện độ tinh thông, cũng như tay nghề của nghệ nhân và quyết định sự thành bại của một mẻ gốm.

Công đoạn tạo dáng.
Công đoạn tạo dáng của các nghệ nhân làng gốm An Thuận, Tri Tôn rất đặc biệt, đó là không dùng bàn xoay hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào. Nghệ nhân sẽ đi vòng quanh trụ đất để đắp, bồi, vuốt, tạo dáng cơ bản.
Bước tiếp theo là chỉnh sửa uốn nắn sản phẩm cho cân đối và sau cùng là xoa mịn mướt bề mặt sản phẩm. Với những sản phẩm có trang trí hoa văn, họa tiết thì nghệ nhân dùng tay hoặc que tre được vót giống như ngòi một cây bút để trang trí đầy ngẫu hứng và sáng tạo. Những nghệ nhân tham gia tạo dáng sản phẩm gốm chủ yếu là phụ nữ.
Sản phẩm sau khi đã tạo dáng hoàn chỉnh, in xong hoa văn, họa tiết, chuốt bóng mặt, sẽ được đem phơi kỹ qua nhiều nắng rồi mới đưa vào nung. Quá trình nung gốm của người Khmer ở An Thuận, Tri Tôn, An Giang cũng giống người Chăm ở Bàu Trúc, Ninh Thuận, đó là nung lộ thiên.
Các nghệ nhân giàu kinh nghiệm xếp gốm ngay trên sân nhà, hoặc khu đất trống bằng phẳng, rồi chất rơm đều trên bề mặt và nổi lửa nung cho đến vừa độ chín thì chuyển qua giai đoạn ủ. Tất cả đều dựa vào kinh nghiệm trong nghề của nghệ nhân. Sản phẩm gốm sau khi đã qua công đoạn ủ sẽ có màu đỏ nhạt, màu nâu, hoặc màu vàng đậm rất ấn tượng.
Gốm thành phẩm của làng gốm từ xưa tới giờ không cần mang đi tiếp thị vì được làm theo đơn đặt hàng. Các thương lái thường đã quen với chủ cơ sở, nên tìm tới tận nhà mua hàng theo lố, rồi vận chuyển ra ghe, xuồng đậu ở bến sông.
Giữ nghề của cha ông
Nghệ nhân Chau Sắc cho biết. Ngày nay dù bếp điện, bếp gas, nồi nhôm, nồi inox đang thịnh hành, nhưng rất nhiều người dân vùng miền Tây Nam bộ vẫn giữ thói quen dùng những đồ gốm gia dụng truyền thống Khmer như cà ràng, nồi đất, trã đất… Theo họ, nấu cơm bằng nồi đất (gốm) bao giờ cũng ngon hơn nấu bằng nồi cơm điện và nấu nước lèo bằng trã ngon hơn nấu bằng nồi nhôm.
Trong số sản phẩm gốm An Thuận thì cà ràng nổi tiếng và bán rất chạy trên thị trường, bởi đây là một loại bếp lò độc đáo, bao gồm 3 ông táo gắn với một thân đáy chịu lửa hình số 8 dùng đun củi, cời than. Bếp nấu cà ràng tiện dụng, linh hoạt dễ di chuyển có thể dùng nấu trên sàn bằng tre, nứa, hoặc để ngay trên ghe, xuồng mà không sợ cháy và nó che chắn gió tốt hơn bếp gas.
Tuy thị trường gốm Khmer ngày nay có phần thu hẹp thị trường hơn những năm đầu thế kỷ 20 nhưng vẫn còn nhiều hộ Khmer muốn giữ lấy nghề của tổ tiên, vì họ coi đây không chỉ là một nghề sinh kế mà là một di sản văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc mình.
Niềm vui lớn nhất của các thế hệ nghệ nhân nơi đây là những năm qua có khá nhiều đoàn chuyên gia nghiên cứu văn hóa nước ngoài, phần đông là người Nhật, đã tìm về An Thuận để tìm hiểu nghiên cứu về làng nghề gốm Khmer độc đáo nổi tiếng lâu đời này.

Sản phẩm gốm mộc được phơi nhiều nắng trước khi nung.
Theo Giáo dục thời đại
http://tintucmientay.com.vn/doc-dao-gom-khmer-an-giang-a245687.html


Gốm Khmer của làng An Thuận theo ghe khách thương hồ tỏa đi muôn nơi, không chỉ có mặt ở các tỉnh miền Tây Nam bộ mà còn ngược lên miền Đông Nam bộ và sang tận Campuchia, cạnh tranh với đồ sành sứ truyền thống nổi tiếng của nước bạn.

Thanh niên Cần Thơ tự bỏ 50 triệu đồng để làm Phố ông đồ

Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2019 // ,
28/01/2019 - 08:36
Một thanh niên ở TP.Cần Thơ tự bỏ tiền túi 50 triệu đồng để dựng lên Phố ông đồ. Nơi đây thu hút đông giới trẻ đến tham quan, chụp ảnh những ngày cận Tết Nguyên đán 2019.

Những ngày qua, giới trẻ TP.Cần Thơ và một số địa phương lân cận thường lập nhóm đến tham quan, chụp ảnh tại Phố ông đồ (được dựng lên tại một hẻm nhỏ cặp chân cầu Cái Răng thuộc khu vực Yên Bình, phường Lê Bình, quận Cái Răng, TP.Cần Thơ).

Phố ông đồ ở khu vực Yên Bình, phường Lê Bình, quận Cái Răng, TP.Cần Thơ. (Ảnh: Huỳnh Xây)
Theo đó, Phố ông đồ có nhiều tiểu cảnh được dựng lên như bếp quê, quầy lì xì, nhà may Cô Ba, nón lá quê hương, viết thư pháp, ...với các khung cảnh đào hồng, mai vàng quen thuộc của ngày Tết. Phố ông đồ đã "biến" con hẻm nhỏ khá vắng trở thành nơi đông đúc, tạo nên không khí tươi mới, tràn ngập mùa xuân và mang đậm phong cách Nam Bộ.
"Được nhiều người giới thiệu, em cùng nhiều bạn đến đây chụp ảnh làm kỷ niệm. Phố ông đồ này có bối cảnh khá rộng và logic nên việc chụp ảnh check in khá thuận tiện” - chị Trần Thị Kiều Trang, ngụ tại phường phường Lê Bình, quận Cái Răng chia sẻ.
Còn chị Lê Tuyết Như - sinh viên Trường Đại học Tây Đô cho biết: "Phố ông đồ cách trường em học không xa, khi nghe có nơi này, em liền lập nhóm đến đây chụp ảnh. Ở đây có nhiều cảnh mang đậm nét tết xưa, thoải mái tạo dáng mà không bị ảnh hưởng bởi nhiều người”. 


Nhiều bạn trẻ đến Phố ông đồ để chụp ảnh. (Ảnh: H.X)
Anh Nguyễn Minh Nhật ở khu vực Yên Bình - người đã tự bỏ tiền túi tạo nên Phố ông đồ trên cho biết: "Để tạo nên không khí tươi mới cho con hẻm nhỏ nơi mình ở trong những ngày Tết, tôi đã xin ý kiến nhiều hộ gia đình trong hẻm và tự bỏ tiền túi khoảng 50 triệu đồng để làm Phố ông đồ. Không ngờ, khi đi vào hoạt động, khá nhiều người đến tham quan, chụp ảnh".
 

Anh Nguyễn Minh Nhật bỏ tiền túi 50 triệu đồng để làm Phố ông đồ, nhiều bạn trẻ rất thích thú với mô hình này. (Ảnh: H.X)
"Tôi muốn tạo một sự khác biệt cho con hẻm, để mọi người cùng đến chia sẻ và được mọi người hưởng ứng rất nhiệt tình. Dù chưa đến Tết nhưng khung cảnh nơi đây chẳng khác nào là mùa xuân” - anh Nhật nói thêm.
Được biết, những ngày này, có nhiều đoàn khách đến Phố ông đồ để quay MV, chương tình truyền hình nên Nhật và một số bạn bè trong nhóm phải túc trực hỗ trợ nhiều việc, nhằm giúp chọn bối cảnh đẹp nhất có thể. 
Anh Nhật nói thêm: “Mặc dù công việc có mệt, quên ăn quên uống, không còn thời gian nghỉ ngơi, không nghỉ lễ, làm cả thứ bảy, chủ nhật nhưng đổi lại là không khí con hẻm đổi mới hoàn toàn”.
Anh Nhật cũng không quên gửi lời cảm ơn tới người dân trong con hẻm và chính quyền địa phương nhiệt tình ủng hộ việc làm của mình. Tới đây anh sẽ xin phép được mở rộng thêm Phố ông đồ trên toàn bộ hẻm. Sau Tết Nguyên đán 2019, Nhật dự tính sẽ trang trí Phố ông đồ thành những tiểu cảnh khác để các bạn trẻ được tiếp tục được tham quan, chụp ảnh.
Theo Dân Việt
http://tintucmientay.com.vn/thanh-nien-can-tho-tu-bo-50-trieu-dong-de-lam-pho-ong-do-a239489.html

Được tạo bởi Blogger.